Cây chùm ngây – những điều cần biết

Nguồn gốc cây Chùm ngây và giá trị nông nghiệp

Moringa oleifera – cây chùm ngây hay còn được gọi là cây cải ngựa, cây dùi trống và nhiều tên khác có nguồn gốc từ Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh và Afghanistan, nhưng được trồng rộng rãi ở khắp châu Phi, châu Á vùng nhiệt đới, châu Mỹ La tinh và các đảo Thái Bình Dương.

Loài cây này nổi tiếng là một cây có giá trị kinh tế và lợi ích cho con người: cây rất kiên cường trước hạn hán và giàu dinh dưỡng, phát triển rất nhanh – đạt 3-5 mét trong vòng một năm, và có thể ngăn ngừa muỗi như một loại thuốc chống repellant (một biện pháp chống sốt rét gián tiếp).

Cây chùm ngây (đặc biệt phần dư chất rắn sau khi ép và bỏ vỏ) còn có hiệu quả trong việc loại bỏ các chất ô nhiễm hữu cơ cũng như các khoáng chất, chất hoạt động bề mặt, benzen và toluen, và thậm chí có tiềm năng chống vi khuẩn lam (cyanobacterium).

Giá trị dinh dưỡng

Cây chùm ngây đặc biệt quan trọng ở những nước đang phát triển, những nơi thường có vấn đề về kém dinh dưỡng, bởi vì lá cây rất giàu vitamin A, canxi, sắt, vitamin C, kali và protein. Nhiều phần của cây chùm ngây có nhiều sắt hơn rau chân vịt (5,3-28,2 mg so với 2,7 mg trong rau chân vịt), nhiều vitamin C hơn cam (120-220 mg so với 69,7 mg ở mỗi quả cam), và nhiều kali hơn chuối (1324 mg vs 422 mg trong mỗi quả chuối). Hàm lượng canxi trong lá chùm ngây cũng thực sự cao.

Khi nhìn vào các thành phần dinh dưỡng đa lượng và phenolic tổng, phần thân và rễ cây là những phần chứa ít hơn các hoạt chất sinh học (phenolic, protein và axit béo) so với lá, điều này củng cố cho việc sử dụng các chất chiết xuất từ lá như các thành phần làm thuốc. Phần hoa cũng có hàm lượng phenolic cao, và hạt mầm cây chùm ngây có thành phần chủ yếu là protein và các axit béo.

Do đó khi được sử dụng làm thực phẩm, lá chùm ngây, cũng như quả, hạt, hạt mầm và rễ, đều được coi trọng ở những nước trồng loại cây này nhờ vào giá trị dinh dưỡng cao của chúng.

cây chùm ngây

Tác dụng sức khỏe

Mặc dù có những nghiên cứu về cây chùm ngây trong ống nghiệm (các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm sử dụng tế bào) và nghiên cứu trên động vật, nhưng một vài thử nghiệm trên người cho đến nay không phải là những thử nghiệm ngẫu nhiên hay không có đối chứng và do đó kết quả chưa đáng tin cậy lắm.

Trong các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và trên động vật, cây chùm ngây cho thấy tác dụng chống ung thư trong các tế bào ung thư buồng trứng, và một số nghiên cứu cho rằng cây có chất chống oxy hóa, chống xơ vữa động mạch, và tác động hạ mỡ máu giúp ngăn ngừa bệnh tim mạch. Một số nghiên cứu ở chuột nhắt và chuột cho thấy, lá và hạt của cây chùm ngây bảo vệ chống lại một số ảnh hưởng của nhiễm độc asen.

Trong các nghiên cứu ở người, những KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU NHẤT QUÁN NHẤT là:

  • Tạo nhiều sữa: khi phụ nữ ăn 250mg chiết xuất lá chùm ngây 2 lần một ngày, mức độ tăng sản xuất sữa vào ngày thứ ba của việc ăn bổ sung này là 265% so với giả dược (tăng 165%). 
  • Hen suyễn: các triệu chứng hen suyễn không dị ứng đã giảm trong một nghiên cứu sử dụng các hạt chùm ngây.
  • Đường huyết: cây chùm ngây có thể làm giảm đường huyết sau bữa ăn ở bệnh nhân tiểu đường loại II (21%), và tác động hạ đường huyết này dường như tăng lên theo thời gian và có thể được áp dụng cho bệnh nhân không bị tiểu đường.
  • Chức năng phổi: khả năng hô hấp ở những người bị bệnh hen suyễn không dị ứng (nhất là những người hút thuốc lá) dường như được tăng cường sau khi được ăn bổ sung hạt chùm ngây.
  • Dưỡng ẩm da: bôi kem chứa 3% lá chùm ngây trong ba tháng mùa đông có thể tăng độ ẩm cho da.
  • Nếp nhăn: bôi kem chứa 3% lá chùm ngây trong ba tháng mùa đông ở nam giới trưởng thành trẻ có thể làm giảm nếp nhăn trên má.

Phản ứng phụ

Không có tác dụng phụ nào được báo cáo trong một nghiên cứu con người tiến hành với bột lá chùm ngây nguyên chất với liều dùng duy nhất tới 50 g một ngày hoặc trong một nghiên cứu sử dụng liều 8 g mỗi ngày trong 40 ngày.

Chưa có báo cáo nào về nghiên cứu ở con người liên quan đến phản ứng phụ của chiết xuất từ lá chùm ngây. Một liều điển hình của dịch chiết xuất là khoảng 3,9 g cho một người 80 kg.

Đặc biệt, liều lượng rất vừa phải có thể gây sẩy thai ở chuột mang thai và việc sử dụng cây này không được khuyên dùng ở phụ nữ mang thai.

Kết luận

Các kết quả từ nghiên cứu được công bố cho đến nay với cây chùm ngây là rất hứa hẹn. Tuy nhiên, như thường lệ, cần có các nghiên cứu bổ sung để giải quyết nhiều điểm khác nhau: khẳng định tác dụng sức khỏe với các nghiên cứu lâm sàng, có đối chứng ; tìm hiểu cơ chế tác động và chất trong cây giữ vai trò có lợi ; kiểm định tính an toàn đối với các chiết xuất cũng như tiêu chuẩn hóa việc chiết xuất và sản xuất các sản phẩm bổ sung.

Xem thêm: Thực phẩm tốt cho các bệnh ung thư.

Trang thông tin Dinh dưỡng chuẩn.

Tài liệu tham khảo:
Sidney J. StohsMichael J. Hartman. Review of the Safety and Efficacy of Moringa oleifera. Phytotherapy Research Volume 29, Issue 6, pages 796–804, June 2015
Ahmad Faizal Abdull Razis et al. Health Benefits of Moringa oleifera. Asian Pac J Cancer Prev. 2014;15(20):8571-6.
Bình luận (Bằng tài khoản Facebook của bạn)

Lê Lâm

Ph.D. - https://fr.linkedin.com/in/lamlefr/en

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *